Bệnh án điện tử và ứng dụng trong y tế
Bệnh án điện tử và ứng dụng trong y tế
Xem bên trong

Bệnh án điện tử và ứng dụng trong y tế

115 tr. + CD-ROM
Luận văn ThS. Quản lý Hệ thống thông tin — Trường Đại học Công nghệ. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014
Electronic Resources

0.00

Tải về miễn phí bản đầy đủ PDF luận văn tại Link bản đầy đủ 1

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LÊ VĂN THÀNH

BệNH ÁN ĐIệN Tử VÀ ứNG DụNG TRONG Y Tế

Ngành: Công nghệ thông tin

Chuyên ngành: Quản lý hệ thống thông tin
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN ĐOÀN

Hà Nội – 2014

2
BẢN CAM ĐOAN

Tôi là : LÊ VĂN THÀNH.
Lớp : CIO03 – Viện Công Nghệ Thông Tin.
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Đoàn.
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung được trình bày trong bản luận văn này
là kết quả tìm hiểu và nghiên cứu của riêng tôi, trong quá trình nghiêncứu đề tài
―Bệnh án điện tử và ứng dụng trong y tế‖ các kết quả và dữ liệu được nêu ra
là hoàn toàn trung thực và rõ ràng. Mọi thông tin trích dẫn đều được tuân theo
luật sở hữu trí tuệ, có liệt kê rõ ràng các tàiliệu tham khảo.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với những nội dung được viết
trongluận văn này.

Hà nội, ngày 1 tháng 12 năm 2014.

HỌC VIÊN

LÊ VĂN THÀNH

3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………. 10
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN………………………………………………………….. 11
1.1 TỔNG QUAN BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ……………………………………… 11
1.1.1 Khái niệm ……………………………………………………………………… 11
1.1.2 Lịch sử phát triển và lợi ích ……………………………………………. 12
1.1.3 Thách thức …………………………………………………………………….. 16
1.1.4 Tầm nhìn ……………………………………………………………………….. 16
1.2 TỔNG QUAN CÁC CHUẨN DỮ LIỆU TRONG Y TẾ ………… 18
1.2.1 Tổng quan chuẩn dữ liệu DICOM ………………………………….. 18
1.2.1.1 Khái niệm ……………………………………………………………….. 18
1.2.1.2 Lịch sử phát triển của DICOM ………………………………… 18
1.2.1.3Nhu cầu thực tế ………………………………………………………… 19
1.2.1.4Mục đích của chuẩn DICOM ……………………………………. 20
1.2.2 Tổng quan chuẩn dữ liệu HL7 ……………………………………….. 20
1.2.2.1 Khái niệm ……………………………………………………………….. 20
1.2.2.2 Lịch sử phát triển của HL7 ………………………………………. 20
1.2.2.3 Nhu cầu thực tế ……………………………………………………….. 24
1.2.2.4 Mục đích của chuẩn HL7 …………………………………………. 24
1.2.3 Tổng quan chuẩn E2184-02 ……………………………………………. 25
1.2.4 Tổng quan chuẩn E1384-02ª (EHR). ………………………………. 25
1.3 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT
NAM …………………………………………………………………………………………. 25
1.4 TỔNG QUAN MÔ HÌNH TRIỂN KHAI CÁC CHUẨN DỮ
LIỆU Y TẾ ……………………………………………………………………………….. 26
CHƯƠNG II – CÁC CHUẨN TRAO ĐỔI DỮ LIỆU Y TẾ …………….. 28
2.1 CHUẨN DỮ LIỆU DICOM …………………………………………………. 28
2.1.1 Phạm vi và trường ứng dụng của DICOM ……………………… 29
2.1.2 Trao đổi thông tin trong DICOM …………………………………… 29
2.1.2.1 Lớp đối tượng ………………………………………………………….. 29
2.1.2.2 Lớp dịch vụ DICOM ……………………………………………….. 30
2.2 CHUẨN DỮ LIỆU HL7 ……………………………………………………….. 33
4
2.2.1 Nguyên tắc mã hóa trong HL7 ……………………………………….. 33
2.2.1.1 Nguyên tắc ………………………………………………………………. 33
2.2.1.2 Ví dụ về mã hóa và giải mã một bản tin HL7 ……………. 34
2.2.2 Các khái niệm cơ sở trong cấu trúc HL7 ………………………… 35
2.2.2.1 Sự kiện kích khởi …………………………………………………….. 35
2.2.2.2 Sự nhận – chế độ nguyên thủy: …………………………………. 36
2.2.2.3 Sự nhận – chế độ tăng cường: …………………………………… 37
2.2.3 Môi trường truyền thông ……………………………………………….. 39
2.2.4 Bản tin …………………………………………………………………………… 41
2.2.5 Đoạn ……………………………………………………………………………… 42
2.2.6 Trường ………………………………………………………………………….. 42
2.2.6.1 Vị trí (thứ tự trong một đoạn) ………………………………….. 42
2.2.6.2 Chiều dài tối đa ……………………………………………………….. 43
2.2.6.3 Loại dữ liệu ……………………………………………………………… 43
2.2.6.4 Tùy chọn …………………………………………………………………. 43
2.2.6.5 Sự lặp lại …………………………………………………………………. 44
2.2.6.6 Bảng ……………………………………………………………………….. 44
2.2.6.7 Số ID ……………………………………………………………………….. 45
2.2.6.8 Tên ………………………………………………………………………….. 45
2.2.6 Ký hiệu phân định bản tin ……………………………………………… 46
2.2.7 Loại dữ liệu ……………………………………………………………………. 47
2.2.8 Sử dụng các trình tự thoát ra trong trường văn bản ……….. 57
2.2.8.1 Định dạng mã ………………………………………………………….. 57
2.2.8.2 Tô nổi (highlighting) ………………………………………………… 58
2.2.8.3 Ký tự đặc biệt ………………………………………………………….. 58
2.2.8.4 Văn bản đã định dạng ……………………………………………… 59
2.2.9 Các quy luật kiến trúc dữ liệu ………………………………………… 60
2.3.10 Cấu tạo một bản tin quản trị bệnh nhân ……………………….. 62
CHƯƠNG III – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHUẨN HÓA BỆNH ÁN
ĐIÊN TỬ THEO CHUẨN HL7 …………………………………………………….. 63
3.1 Mô hình ứng dụng ……………………………………………………………….. 63
Chi tiết quy trình trao đổi thông tin HSBA …………………………….. 68
Chi tiết quy trình trao đổi thông tin danh mục ……………………….. 68
5
3.2 Bệnh án điện tử theo kiến trúc tài liệu lâm sang (HL7 CDA) …. 71
3.2.1 Giới thiệu chung …………………………………………………………….. 71
3.2.2 Quản lý trao đổi HSBA điện tử ………………………………………. 72
3.2.2.1 Mô hình kiến trúc hệ thống ……………………………………… 72
3.2.2.2 Quy tắc cập nhật và sửa đổi nội dung tài liệu ……………. 73
3.2.3 Template tài liệu CDA ……………………………………………………. 75
3.2.3.1 Quy tắc cập nhật và sửa đổi nội dung tài liệu ……………. 75
3.2.3.2 Sử dụng các bộ danh sách mục dữ liệu trong tài liệu
CDA …………………………………………………………………………………… 76
3.2.4 Mô hình hóa thông tin HSBA điện tử ……………………………… 78
3.2.4.1 Hồ sơ bệnh án điện tử đang áp dụng ………………………… 78
3.2.4.2 Các thông tin có trong tờ bệnh án …………………………….. 80
3.2.5 Template CDA của hồ sơ bệnh án điện tử ………………………. 90
3.2.5.1 Phần header …………………………………………………………….. 91
3.2.5.2 Phần thông tin bệnh nhân ……………………………………….. 94
3.2.5.3 Phần thông tin chuẩn đoán ………………………………………. 96
3.2.6 Bảng ánh xạ thông tin HSBA với CDA …………………………… 98
3.2.6.1 Bệnh nhân – Header ………………………………………………… 98
3.3Giao tiếp giữa HL7 CORE Bệnh viện và HL7 CORE Gateway
………………………………………………………………………………………………… 101
3.3.1 Chuẩn dữ liệu bản tin HL7 …………………………………………… 101
3.3.1.1 Cấu trúc cơ bản của bản tin HL7 …………………………… 101
3.3.1.2 Cấu trúc thông đệp gửi nhận (MDM-ACK) ……………. 106
3.3.1.3 Cấu trúc thông điệp truy vấn dữu liệu (VQQ-TBR) .. 109
3.3.2 Quy trình trao đổi thông tin trong hệ thống HL7 CORE . 110
3.3.2.1 Trao đổi dữ liệu HSBA dạng CDA …………………………. 110
3.3.2.2 Trao đổi dữ liệu danh mục …………………………………….. 111
CHƯƠNG IV – KẾT LUẬN ………………………………………………………… 112
4.1 Kết luận ……………………………………………………………………………… 112
4.2 Hướng phát triển ……………………………………………………………….. 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu, chữ
tiếng anh
Định nghĩa
1 VD Ví dụ
2 CNTT Công nghệ thông tin
3 CSDL Cơ sở dữ liệu
4 HSBA Hồ sơ bệnh án
5 BAĐT Bệnh án điện tử
6 HL7 Health Level Seven
7 DICOM Digital Imaging and Communications in Medicine
8 EHR Electronic Health Record
9 CT Computed Tomography
10 ASTM American Society for Testing Materials
11 ISO International StandardsOrganization
12 OSI Open System Interconnection
13 CNTT Công nghệ thông tin
14 ACR American College of Radiology
15 NEMA The National Electrical Manufacturers Association
16 DIMSE DICOM Message Service Element
17 SCP Service Class Provider
18 SCU Service Class User
19 PACS Picture Archiving and Communication System
20 ASCII American Standard Code for InformationInterchange
21 ADT Administration
22 TE Trigger Event
23 QRD Querry Definition
24 QRF Querry Filter
25 LLP Lower Level Protocols
26 MSH Message Header Segment
27 EVN Event typesegment
28 PID Patient identify segment
29 NK1 Next of kin segment
30 ID Indentification
31 SEQ Sequence
32 LEN Length
33 ACK Acknowlegment
34 HIS Hospital information system
35 RIS Radiology information system
36 CDA Clinical Document Architecture

7
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1-1: Lịch sử phát triển của các phiên bản HL7
Hình 2-1: Quá trình truyền ảnh từ CT scanner tới trạm hiển thị
Hình 2-2: Các phần cấu thành nên một bản tin HL7
Hình 3-1: Mô hình thống kê cơ sở y tế ở Việt Nam
Hình 3-2 Mô hình trao đổi thông tin tổng thể hệ thống HL7 CORE
Hình 3-3: Mô hình trao đổi thông tin trong nội bộ hệ thống thông tin bệnh viện
(HIS) và hệ thống HL7 CORE Bệnh viện
Hình 3-4: Mô hình trao đổi thông tin HSBA từ HL7 CORE Bệnh viện tới HL7
CORE GATEWAY
Hình 3-5: Mô hình trao đổi tài liệu CDA trong ứng dụng
Hình 3-7: Cấu trúc tài liệu CDA
Hình 3-8: Thành phần của tài liệu CDA

8
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2-1 Bảng các lớp đối tượng DICOM
Bảng 2-2 Bảng các lớp dịch vụ
Bảng 2-3 Bảng DIMSE tổ hợp
Bảng 2-3 Bảng DIMSE tổ hợp
Bảng 2-4 Bảng ký hiệu tùy chọn
Bảng 2-5 Bảng ký hiệu lặp lại
Bảng 2-6 Bảng các ký hiệu phân định bản tin
Bảng 2-7 Bảng loại dữ liệu HL7
Bảng 2-8 Bảng ký hiệu trình tự thoát ra trong trường văn bản
Bảng 2-9 Bảng là một ví dụ về loại dữ liệu FT từ báo cáo bức xạ.
Bảng 3-1: OID của các bảng mã sử dụng theo tiêu chuẩn thế giới
Bảng 3-2: Cấu trúc thông tin tờ bệnh án
Bảng 3-3: Thông tin bệnh nhân biểu diễn dạng thực thể dữ liệu
Bảng 3-4: Thông tin chuẩn đoán biểu diễn dạng thực thể dữ liệu
Bảng 3-5: Thông tin bệnh án biểu diễn dạng thực thể dữ liệu
Bảng 3-6: Ánh xạ bệnh nhân – Header
Bảng 3-8: Bệnh án
Bảng 3-9: Các segment thông tin của một thông điệp HL7
Bảng 3-10: Các trường thông tin trong MSH
Bảng 3-11: Các trường thông tin cơ bản về bệnh nhân (PID)
Bảng 3-12: Các trường thông tin về đợt điều trị tại bệnh viện (PV1)
Bảng 3-13: Các trường thông tin cơ bản TXA
Bảng 3-14: Các trường thông tin trong OBX
Bảng 3-15: Các trường thông tin MSA
Bảng 3-16: Các trường thông tin ERR
Bảng 3-17: Các trường thông tin VTQ
Bảng 3-18: Các trường thông tin QAK
9
Bảng 3-19: Các trường thông tin RDF
Bảng 3-20 Các trường thông tin RDT
Bảng 3-21: Cấu trúc thông tin của thông điệp truy vấn và trả lời

10
MỞ ĐẦU

Trong hệ thống thông tin y tế, đặc biệt là hệ thống thông tin bệnh viện,
việc lưu trữ những thông tin về bệnh nhân từ khi nhập viện đến khi xuất viện,
hay là nhập viện lại nhiều lần, những thông tin quản lý hoạt động trong bệnh
viện thường xuyên xảy ra với dung lượng lưu trữ lớn. Việc lưu trữ bằng sổ sách
đã xuất hiện những bất cập như lượng thông tin lưu trữ quá lớn, việc tìm kiếm
khó khăn, đặc biệt là việc chia sẻ thông tin giữa các khoa trong bệnh viện hoặc
giữa các bệnh viện với nhau là hầu như chưa thực hiện được. Chính vì vậy, các
bệnh viện đã chuyển dần sang việc thu thập và lưu trữ thông tin bằng máy tính.
Ở Việt Nam, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện
đang từng bước phát triển, điều này giúp truy cập thông tin nhanh, hỗ trợ công
tác chẩn đoán, thống kê và nghiên cứu khoa học của các chuyên khoa, giảm
thiểu tài liệu lưu trữ hàng năm cho hệ thống bệnh viện, giúp ích cho bệnh nhân
cũng như bác sỹ nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cá
nhân. Tuy nhiên các hệ thống thông tin ở các bệnh viện và trung tâm y tế vẫn
chưa tuân theo một chuẩn chung nào. Vì vậy việc nghiên cứu và áp dụng chuẩn
bệnh án điện tử quốc tế để chuẩn hóa bệnh án điện tử ở Việt Nam là một vấn đề
cấp thiết và có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe cho
người dân và nâng cao khả năng tương tác, trao đổi thông tin, hòa nhập giữa các
hệ thống thông tin của các bệnh viện trong nước và quốc tế.
Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài: “BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ VÀ ỨNG DỤNG
TRONG Y TẾ” với hai mục tiêu sau:
1. Tổng quan về bệnh án điện tử, và các chuẩn dữ liệu sử dụng trong y tế.
2. Đề xuất giải pháp chuẩn hóa bệnh án điện tử bằng chuẩn HL7 thông
qua việc chuyển đổi một thành phần từ hệ thống bệnh án điện tử đang ứng
dụng tại một bênh viện sang lưu trữ dạng chuẩn HL7.
11
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần
đây cũng đã lan rộng qua lĩnh vực y tế, đặc biệt là ở lĩnh vực hồ sơ y lý. Cho đến
nay có nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc bước đầu đã sử dụng bệnh án điện tử, tạo
ra những thuận lợi trong việc ghi chép hồ sơ của nhân viên y tế, minh bạch đối
với người bệnh và tạo nhiều thuận lợi cho công việc kê đơn, cấp phát thuốc,
công tác thống kê, sao lục bệnh án, thanh quyết toán viện phí…
Tất nhiên, đó mới chỉ là những hình thái ban đầu của bệnh án điện tử và
chỉ có giá trị ở từng khu vực ( ví dụ ở phòng khám, quầy thuốc…). Rất ít cơ sở y
tế dùng bệnh án điện tử trong quy mô của một mạng quản lý tổng thể một bệnh
viện hoặc liên viện (systemic). Mặc dù đã có một số kết quả bước đầu, nhất là
đứng về phía quyền lợi người bệnh, bệnh án điện tử vẫn chưa phát triển rộng rãi
và phục vụ cho lợi ích cộng đồng. Trong bối cảnh đó, cùng với mơ ước một
ngày nào đó các bệnh viện ở nước ta sẽ sử dụng 100% bệnh án điện tử đạt chuẩn
quốc tế để thuận lợi cho người bệnh để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh,
cũng như lợi ích mà nó mang lại trên toàn thế giới.
Vậy, bệnh án điện tử là gì? Lịch sử và lợi ích của nó mang lại cho cộng
đồng ra sao?
1.1.1 Khái niệm
Có nhiều ý nghĩa khác nhau liên quan với từ ngữ này. Nhiều lợi ích ban
đầu của bệnh án điện tử đã được ghi nhận trong việc chuyển tải các dấu hiệu
sinh tồn vào các website lưu trữ thông tin sức khỏe, ví dụ như Google Health và
Microsoft Health Vault. Ngay bản thân từ bệnh án điện tử cũng gây nhiều tranh
cãi. Các chuyên gia trong lĩnh vực này đã dùng những tên khác để mô tả hệ
thống bệnh án điện tử bao gồm : Diễn đàn sức khỏe cá nhân, Trình ứng dụng sức
khỏe cá nhân, Hệ thống hồ sơ sức khỏe có sự kiểm soát cá nhân.
12
Về mục đích, bệnh án điện tử là một diễn đàn kết nối các dữ liệu của
người bệnh từ nhiều nguồn và đưa ra những trình ứng dụng, dùng các dữ liệu đó
để giúp người bệnh hiểu rõ và cải thiện sức khỏe của mình, cũng như giúp bác
sỹ tiếp cận, theo dõi thông tin bệnh nhân một cách nhanh nhất, và có thể tham
khảo lịch sử chẩn đoán, điều trị của các bác sỹ khác để có những quyết định
chính xác nhất. Ngoài gia nó còn giúp truy cứu trách nhiệm khi phát sinh vấn đề
từ việc điều trị nào đó. [5]
Tóm lại, bệnh án điện tử là nơi lưu trữ, quản lý toàn bộ thông tin khám
chữa của bệnh nhân từ khi sinh ra đến khi mất đi. Nó giúp bác sỹ cũng như bệnh
nhân chủ động hơn trong việc bảo vệ sức khỏe và chuẩn đoán điều trị tại bất kỳ
đâu.
1.1.2 Lịch sử phát triển và lợi ích
Xuất phát từ nhu cầu có một diễn đàn kết nối các dữ liệu của người bệnh
từ nhiều nguồn và đưa ra những trình ứng dụng, dùng các dữ liệu đó để giúp
người bệnh hiểu rõ và cải thiện sức khỏe của mình.Đây là một ý niệm phức tạp
mà các trang web đang cố gắng tìm kiếm để mở rộng và phát triển. Trong khi
chưa có định nghĩa rõ ràng cho cho bệnh án điện tử thì đã xuất hiện nhiều tính
chất và chức năng của bệnh án điện tử làm nó trở thành công cụ duy nhất giúp
người bệnh tham gia và quyết định những việc liên quan đến sức khỏe của họ.
Bệnh án hay hồ sơ y khoa cũng lâu đời như bản thân việc chữa bệnh hay
thực hành y khoa. Về mặt lịch sử, bệnh án là những tệp bằng giấy được các bác
sỹ thiết lập, sở hữu và duy trì. Như vậy nó được thiết kế để thỏa mãn nhu cầu
của nhà cung cấp dịch vụ y tế và đặt cơ sở trên những thông tin mà người thầy
thuốc (chứ không phải bệnh nhân) cho rằng có liên quan đến qui trình lâm sàng
như là lịch sử bệnh, các tình trạng bệnh lý và sự dùng thuốc. Khi khoa học máy
tính trở nên phổ biến hơn trong thực hành y khoa vào cuối những năm 1990 và
đầu những năm 2000, một số nhà cung cấp dịch vụ y tế đã chuyển đổi các bệnh
án bằng giấy sang hồ sơ y khoa điện tử (EMRs: Electronic Medical Records).
Hồ sơ y khoa điện tử chủ yếu là phiên bản số hóa của bệnh án bằng giấy được
13
tạo nên bởi các bác sỹ, điều dưỡng và nhân viên bệnh viện. Tuy nhiên quan
trọng hơn là hồ sơ y khoa điện tử đã giúp cho người bệnh dễ dàng truy cập vào
hồ sơ y khoa của họ, thường là qua các cổng trang website trực tuyến. Các cổng
website của hồ sơ y khoa điện tử là các cửa sổ đi vào hồ sơ y khoa của cơ quan
chủ quản, thường là một bệnh viện hay một hệ thống y tế. Những cổng này
cũng có những giới hạn của nó nhưng đã khởi đầu một sự thay đổi quan trọng
trong việc truy cập và tham gia của người bệnh vào trang thông tin sức khỏe của
cá nhân mình. Thông qua các cổng website này, người bệnh bắt đầu thấy được
lợi ích khi hiểu biết những điều ghi trong bệnh án của họ và khi được truy cập
vào các dữ liệu, họ đã góp phần vào các quyết định của thầy thuốc trong việc
chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân.
Sự chuyển đổi từ bệnh án bằng giấy sang bệnh án điện tử không phải
động lực duy nhất tạo ra sự tiến triển của bệnh án điện tử. Một lực đẩy tuy nhỏ
nhưng mạnh mẽ, xuất phát từ người bệnh khi họ đang yêu cầu được truy cập và
kiểm tra thông tin sức khỏe của mình cùng một lúc và theo một cách đơn giản,
dễ làm. Ở bất cứ nơi nào mà hệ thống cung cấp dịch vụ y tế vận hành chậm chạp
thì ở đó các thiết bị hoạt động độc lập (mà lúc đầu được gọi là bệnh án điện tử)
sẽ bắt đầu khởi động để phục vụ cho nhóm “bệnh nhân khách hàng” mới này.
Những “bệnh nhân-khách hàng” này muốn thấy các thông tin sức khỏe của họ
bên cạnh những thông tin mà họ cho là có liên quan với họ như các số liệu sức
khỏe cá nhân, từ mức đường trong máu, khẩu phần, đến các thói quen tập luyện.
Thế hệ bệnh án điện tử đầu tiên chưa có sự hấp dẫn trên diện rộng, một phần vì
sự tương tác giới hạn giữa bệnh án điện tử với các hệ thống cung cấp dịch vụ y
tế. Hơn nữa, thị trường của những khách hàng tham gia sức khỏe vào lúc đó
cũng còn nhỏ nhoi và không tập trung. Nhưng ước muốn có được những thiết bị
và những ứng dụng để làm cho các thông tin sức khỏe trở nên thân thiết hơn với
người bệnh đã đóng vai trò quyết định trong sự tiến triển của bệnh án điện tử.
Những tiến bộ kỹ thuật diễn ra trong các hệ thống cung ứng dịch vụ sức
khỏe, cùng với yêu cầu ngày một tăng của người bệnh muốn được nắm giữ hồ
sơ sức khỏe cá nhân của mình đã dẫn đến “sự đồng tiến” của bệnh án điện tử của
14
cơ sở y tế và bệnh án điện tử hoạt động độc lập. Kết quả của sự đồng tiến này là
một số chủ đề chung đã xuất hiện bao gồm một sự thỏa thuận sơ bộ về những
tính chất căn bản, những chức năng và các giới hạn của bệnh án điện tử. Một
trong những tính chất đã được xác định của bệnh án điện tử là vị trí trung tâm
của người. Trong lịch sử thì những người cung cấp dịch vụ y tế có nhiều kiến
thức, quyền lực và thông tin hơn người bệnh. Bệnh án làm thay đổi cách vận
hành của mối liên hệ này bằng cách cho phép người bệnh truy cập vào thông tin
của họ. Thầy thuốc vẫn là những chuyên gia, vẫn là người duy nhất viết một toa
thuốc hay cho chỉ định một xét nghiệm nhưng bệnh án điện tử làm nhiều việc để
giảm bớt sự mất cân đối thông tin. Khi được trang bị với những hiểu biết về các
dữ liệu riêng của mình, người bệnh có thể trở nên quan trọng và trở thành người
quản lý chủ động – đồng chủ nhân sức khỏe của mình. Bệnh án điện tử đặt
người bệnh ở vị trí trung tâm trong những quyết định liên quan đến sức khỏe
như vừa là chủ nhân của nguồn dữ liệu sức khỏe, vừa làm chủ dịch vụ chăm sóc
sức khỏe của mình. Không còn thời kỳ giao khoán việc chăm sóc sức khỏe
người bệnh cho một mình người thầy thuốc mà phải san sẻ với người bệnh.
Khi có một vài thỏa thuận đầu tiên về chức năng của bệnh án điện tử thì
đã xuất hiện nhiều phiên bản khác nhau của bệnh án điện tử nhằm thỏa mãn
các yêu cầu đa dạng của bệnh nhân – khách hàng. Phiên bản tiên tiến nhất đã có
thể giúp người bệnh truy cập vào hồ sơ sức khỏe của họ, tham gia vào mối liên
hệ chặt chẽ giữa bệnh nhân và thầy thuốc, theo dõi và quản lý việc dùng thuốc
của mình. Tùy thuộc vào mục đích đặc biệt mà các phiên bản bệnh án điện tử
đầu tiên còn cho phép người bệnh nhập và tra cứu các số liệu về cholesterol của
mình, nhận những thông báo về các kỹ thuật tầm soát phòng bệnh hoặc ghi chép
vào nhật ký những cơn đau hay trạng thái tâm lý của mình. Cuối cùng, các giới
hạn của thế hệ bệnh án điện tử đầu tiên đã trở nên ngày càng rõ ràng cùng với sự
phát triển rầm rộ của nó. Đã có lý do giải thích tại sao các phiên bản sớm nhất
của bệnh án điện tử đã xâm nhập thị trường một cách tương đối ít: “Không có
người thầy thuốc ở phía bên kia của trình ứng dụng để liên tục cung cấp sự tư
vấn, chỉnh sửa các toa thuốc, hoặc mặt khác giúp đỡ người bệnh quản lý tốt việc
15
chăm sóc cho mình” thì những trình ứng dụng này không thể cung ứng cho
người bệnh những tiện ích tức thì. Cho dù bệnh nhân nhập liệu bằng tay, tất cả
thông tin sức khỏe của mình và luôn làm mới nó thì cũng không có cách gì để
các nhà cung cấp dịch vụ liên quan vào được thông tin đó, nếu nó được thực
hiện tại nhà, trong một bệnh án điện tử riêng rẽ.
Ngay cả với những bệnh án điện tử gắn kết chặt với hệ thống cung cấp
dịch vụ sức khỏe cũng có những giới hạn của nó. Một bệnh viện có thể cho phép
người bệnh đọc được hồ sơ sức khỏe của họ thông qua một cổng website và
ngay cả có thể cung cấp những trình ứng dụng cho phép họ nhắn tin an toàn,
truy cập các dữ liệu liên quan đến họ nhưng bệnh án điện tử vẫn có giá trị giới
hạn, trừ khi những thông tin đó theo suốt người bệnh thông qua tất cả các dịch
vụ y tế mà họ đã xử dụng (lâm sàng và các dịch vụ khác). Ví dụ một người bệnh
tiểu đường với một đội chăm sóc y tế và một bệnh án điện tử ở một bệnh viện
cũng không thể có những tiện ích có ý nghĩa từ kho công nghệ thông tin trừ khi
nó liên tục kết nối với nhà thuốc, thầy thuốc khám đầu tiên và các nhà cung cấp
dịch vụ khác của người bệnh. Một bệnh nhân có thể có nhiều bệnh án điện tử –
ví dụ 2 hồ sơ cho hai bệnh mạn tính và một hồ sơ cho lần khám ban đầu nhưng
không có hồ sơ nào tương tác với nhau, hoặc còn lại với người bệnh khi họ cắt
kết nối với nhà cung cấp dịch vụ. Hãy tưởng tượng sự phức tạp và rườm rà của
nó.
Để đạt được đầy đủ năng lực của nó, các hệ thống bệnh án điện tử phải có
khả năng thông tin điện tử hai chiều và khả năng trao đổi thông tin với nhiều
nguồn dữ liệu về sức khỏe khác nhau, hiện có trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
manh mún của chúng ta. Báo cáo sau cùng của tổ chức Personal Health Working
Group of Connecting for Health và báo cáo sau đó của Connecting for Health về
“Các chính sách chia sẻ thông tin điện tử” ( Policies for Electronic Information
Sharing) đã nhấn mạnh quan điểm này và nhận định tốt về cách thức mà bệnh án
điện tử đã tiến triển và thay đổi trong 10 năm qua. Các báo cáo này cũng tạo ra
một phát súng bắn tỉa vào những thỏa thuận thực hành về các chức năng và các
giới hạn của bệnh án điện tử ở thời điểm mà những thỏa thuận đó đang được

Tác giả

Lê Văn Thành

Nhà xuất bản

ĐHCN

Năm xuất bản

2014

Người hướng dẫn

Nguyễn Văn Đoàn

Định danh

00050004282

Kiểu

text

Định dạng

text/pdf

Nhà xuất bản

Khoa công nghệ thông tin,

Trường đại học Công nghệ

Các đánh giá

Hiện chưa có đánh giá cho sản phẩm.

Hãy là người đầu tiên đánh giá “Bệnh án điện tử và ứng dụng trong y tế”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *